Bản đồ Thường Đức
Nói đến ngày 30.4.1975 và những ngày cuối cùng của
Miến Nam Việt Nam mà không nói đến trận đánh Thường Đức là một thiếu
sót rất lớn, vì đây là trận đánh quyến định số phận của Miền Nam Việt
Nam.
Người Pháp, chính phủ Ngô Đình Diệm và người Mỹ
đều thấy rất rõ rằng nếu không giữ được cái chốt Thường Đức ở phía tây
Đà Nẵng, Cộng quân sẽ từ vùng rừng núi cao ở Thừa Thiên đổ xuống
Quảng Nam theo con đường 14 do Pháp thành lập dọc theo dãy Trường Sơn,
rồi tiến đánh Cao Nguyên Trung Phần và toàn Miền Nam, do đó họ đã
thiết lập và duy trì những căn cứ rất vững chắc ở Thường Đức, không
cho Cộng quân đi lọt qua. Lúc đó, muốn đi vào Cao Nguyên hay miền Nam,
Cộng quân phải làm con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào rồi đổ xuống
vùng Tam Biên hay Kampuchia. Đây là con đường rất dài, hiểm trở và
không thể đặt ống dẫn dầu… nên khó chuyển quân và tiếp liệu nhanh để
đánh lớn được.
Phóng ảnh Chi Khu Thường Đức và hậu cứ Tiểu Đoàn 79/BĐQ
Nhưng sau khi Mỹ đi rồi, Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu và Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật, không có
tầm nhìn chiến lược nên coi thường cái chốt Thượng Đức. Các tài liệu
được tiết lộ sau này còn cho thấy Tướng Ngô Quang Trưởng chẳng những
không quyết tâm giữ Thường Đức mà còn muốn bỏ mất cái chốt này để Cộng
quân có thể đưa lực lượng xuống miền Nam, làm nhẹ áp lực quân sự tại
hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, nơi ông đang có trách nhiệm bảo vệ!
SƠ LƯỢC KẾ HOẠCH CỦA HÀ NỘI
Như chúng tôi đã trình bày nhiều lần, các tài
liệu cho biết sau khi ký Hiệp Định Paris, Hà Nội đã lập ngay kế hoạch
đánh chiếm Miền Nam, kế hoạch đó có thể được tóm lược như sau: Đưa
quân vào Phước Long và Bình Long rồi đánh thẳng vào đầu não của miền
Nam là Sài Gòn, bỏ qua các tỉnh miền Trung. Muốn đưa quân vào hai tỉnh
này, Hà Nội phải cho khai thông con đường 14 từ Nghệ An đến Phước
Long dài khoảng 1.380km. Hà Nội cho biết nếu phải vận chuyển bằng con
đường Tây Trường Sơn trên đất Lào, từ Nghệ Tĩnh vào đến Pleiku, quân
đội Miền Bắc phải mất ít nhất 6 tháng. Trái lại, nếu vận chuyển bằng
đường 14, thường được gọi là đường Đông Trường Sơn, trên lãnh thổ Miền
Nam, chỉ mất có một tháng. Trong cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” xuất bản
năm 1976, Tướng Văn Tiến Dũng đã viết:
“Một vấn đề then chốt là phải có hệ thống đường
cơ động tốt. Công trình xây dựng con đường chiến lược Đông Trường Sơn
bắt đầu từ năm 1973, hoàn thành đầu năm 1975 được xúc tiến với nhịp độ
hết sức khẩn trương nối liền từ đường số 9 (Quảng Trị) vào đến miền
Đông Nam Bộ là công trình lao động của hơn 30.000 bộ đội và thanh niên
xung phong, đưa tổng số chiều dài đường chiến lược và chiến dịch, cũ
và mới, làm trong suốt cuộc chiến tranh lên hơn 20.000 kilô mét...
“Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn là hệ
thống 5.000 kilô mét ống dẫn dầu kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên
tới Lộc Ninh, vượt cả sông, suối sâu, núi cao, có ngọn hơn 1000 mét,
đủ sức tiếp dầu cho hàng chục ngàn xe các loại vào, ra trên đường...”
Muốn thực hiện kế hoạch này, công việc đầu tiên
là phải phá bỏ cái chốt Thường Đức ở phía tây Đà Nẵng, sau đó là cái
chốt Đức Lập ở phía tây Ban Mê Thuột.
TẦM QUAN TRỌNG CỦA THƯỜNG ĐỨC
Khúc đường 14 từ Thừa Thiên vào Quảng Nam – Đà
Nẵng rất hiểm trở, phải đi qua hai thung lũng và vực sâu thuộc A Lưới
và A Shau (còn gọi là A Sao hay A Sầu) thuộc tỉnh Thừa Thiên, nằm kẹp
giữa dãy Động Ngài ở phía đông với độ cao trung bình trên 1.000m và
dãy A Bia ở phía tây cao gần 2.000m. Độ cao của hai thung lũng này
cách mặt biển khoảng 800m.
Biên giới giữa Thừa Thiên và Quảng Nam - Đà Nẵng
dài khoảng 112km tính từ biên giới Lào đến Biển Đông. Phần biên giới
giáp với Quảng Nam dài 56,66km, chận ở giữa là hòn Hói cao 1.166m.
Phần giáp với Đà Nẵng dài 55,82km có các đỉnh của dãy Bạch Mã ở phía
nam quận Phú Lộc cao 1712m và gần Lăng Cô cao 1528m.
Muốn từ Thừa Thiên vào Quảng Nam - Đà Nẵng chỉ có
hai con đường: Muốn đi vào Đà Nẵng phải đi theo quốc lộ 1 qua đèo Hãi
Vân nằm sát biển. Con đường này đang do Quân Lực VNCH trấn giữ. Muốn
xuống Quảng Nam Cộng quân phải đi từ thung lũng A Lưới, A Shau, đến A
Đớt thì vòng qua lãnh thổ Lào khoảng 10km rồi quẹo vòng lại và vượt
đèo A Yên trên Trường Sơn để vào A Tep (bản đồ Mỹ ghi là Ai Yin Young)
thuộc tỉnh Quảng Nam. Qua khỏi A Tep là thung lũng Hiên (người Pháp
gọi là Prao) và Giằng. Phía tây Hiên có núi cao đến 1644m. Hiên và
Giằng cách nhau khoảng 40km. Nay khúc đường 14 này đã được Hà Nội sửa
lại, cho chạy qua hai hầm A Roàng 1 và A Roàng 2 để chui qua Trường Sơn
rổi xuống A Tep, không phải đi qua đất Lào như trước nữa. Ngoài hai
con đường đó, không còn con đường nào khác.
Hiên và Giằng lúc đầu thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh
Quảng Nam. Thời Pháp thuộc, khi làm con đường 14 đi sát chân dãy
Trường Sơn, Pháp nhận thấy Hiên và Giằng là điểm chiến lược quan trọng
để bảo vệ an ninh, nên đã thiết lập liên tỉnh lộ 4 dài khoảng 40km,
nối quốc lộ 1, khúc Điện Bàn, với Giằng ở ngã ba quốc lộ 14 để khi hữu
sự có thể điều quân một cách nhanh chóng. Năm 1937, Pháp đã lập Căn
Cứ số 6 (Poste No 6) tại đây và làm thêm liên tỉnh lộ 13 dài khoảng
50km, vượt qua một con đèo quanh co khoảng 20 km giữa những cánh rừng
nguyên sinh, nối liền Giằng với cửa khẩu Dak Ta Ooc nằm giữa biên giới
Lào - Việt, ở độ cao 1.200m, để chế ngự cả vùng phía tây và tây bắc
của Quảng Nam – Đà Nẵng.
Sau khi Hà Nội thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam để đánh chiếm Miền Nam, ngày 31.7.1962, Tổng thống Ngô Đình Diệm
đã ký Sắc Lệnh số 162-NV tách tỉnh Quảng Nam thành hai tỉnh là Quảng
Nam và Quảng Tín để bảo vệ an ninh. Tỉnh Quảng Nam gồm 9 quận và tỉnh
Quảng Tín 6 quận. Tại tỉnh Quảng Nam, chính phủ quan tâm đến vùng Hiên
và Giằng thuộc quận Đại Lộc, nên đã tách hai vùng này ra khỏi quận
Đại Lộc và thành lập một quận riêng gọi là quận Thường Đức (trong văn
kiện chính thức là Thường Đức chứ không phải Thượng Đức). Quận lỵ và
Chi Khu quận Thường Đức được đặt tại thôn Hà Tân, xã Đại Lãnh, nơi
ngã ba sông Côn gặp sông Vu Gia, cạnh liên tỉnh lộ 4. Sở dĩ
chính phủ Ngô Đình Diệm cho thành lập quận này là để cắt đứt con đường
14, không cho Cộng quân di chuyển vào Nam.
Không cần có sự đồng ý của chính phủ Phan Huy
Quát, ngày 8.3.1965 Hoa Kỳ bắt đầu đổ 1.500 thủy quân lục chiến vào Đà
Nẵng và ngày 7.5.1965 đưa thêm 3 tiểu đoàn nữa đến lập căn cứ Chu
Lai. Quân đội Hoa Kỳ và Quân Lực VNCH quan tâm ngay đến việc củng cố
căn cứ Thường Đức. Một hệ thống công sự liên hoàn đã được xây tại đây
gồm 35 lô cốt lớn và hầm ngầm bằng bê tông cốt sắt hai tầng với hàng
chục lô cốt tiền đồn và ụ súng nửa chìm nửa nổi ở chung quanh. Khi
cuộc chiến xảy ra, mọi hoạt động đều có thể được vận hành ở dưới mặt
đất.
Hoa Kỳ không phải chỉ thành lập những tiền đồn để
chận Cộng quân ở Thường Đức, mà còn lập nhiều tiền đồn ở thung lũng A
Shau, A Lưới trong tỉnh Thừa Thiên, nơi khúc đường 14 đổ xuống Hiên
và Giằng. Trước đó, chính phủ Ngô Đình Diệm đã cho mở đường 12 từ Huế
lên A- Lưới dài khoảng 40km. Quân lực Mỹ đã chiếm điểm cao 935 ở A
Shau, có tên là đồi A Bia, và xây dựng căn cứ hoả lực Ripcord tại đây
với 1 đại đội pháo 105mm và 1 đại đội cối 106,7mm. Hai tiểu đoàn 2/502
và 2/506 thuộc Sư đoàn Không vận 101 được đưa tới hợp với quân lực VNCH
giữ các cứ điểm này. Hai phi trường quân sự đã được xây dựng, một ở A
Lưới và một ở A Shau. Tại đồi 935, thường được người Mỹ gọi là
“Hambuager Hill” (Đồi Thịt Băm), đã xảy ra một trận đánh gay cấn giữa
quân đội Mỹ và Sư Đoàn 324B của Cộng Quân từ ngày 1 đến 23.7.1970. Cựu
Ngoại trưởng Colin Powell của Mỹ, lúc đó là Đại úy Tiểu đoàn trưởng
Tiểu đoàn 2 đóng tại A Shau, đã bị sập hầm chông tại đây. Sau khi rãi
chất da cam làm trụi lá, B.52 cũng đã được điều động hằng chục lần đến
rải thảm phá nát khu rừng hai bên đường 14 từ A Lưới đến Thường Đức.
Một vài nét về địa hình và lịch sử nói trên cũng
đủ cho chúng ta thấy khúc đường 14 từ A Lưới, A Shau và cái chốt
Thường Đức quan trọng như thế nào đối với chiến tranh Việt Nam. Nhưng
sau Hiệp Định Paris, nhất là sau khi quân đội Mỹ rút đi, Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Ngô Quang Trưởng không có tầm nhìn chiến
lược, đã bỏ ngỏ con đường 14 từ Đồng Hà đến Thường Đức và coi thường
cái chốt Thường Đức.
CHUẨN BỊ ĐÁNH THƯỜNG ĐỨC
Trong hai năm 1969 và 1970 Cộng quân đã hai lần
tấn công Thượng Đức nhưng không kết quả, vì lúc đó lực lượng VNCH còn
được Mỹ yểm trợ.
Vào tháng 6/1974, lúc đó kẻ viết bài nầy và một
số ký giả đang ngồi uống cà phê ở Sài Gòn thì một tùy viên quân sự Mỹ
đến và nói họ muốn đưa chúng tôi ra Đà Nẵng để quan sát một mặt trận
quan trọng sắp xảy ra. Họ đưa chúng tôi lên máy bay đi Đà Nẵng rồi từ
phi trường Đà Nẵng được trực thăng đưa lên Thường Đức. Tại một hầm chỉ
huy, chúng tôi được ngồi nghe trình bày về các hoạt động của Cộng
quân chung quanh căn cứ Thường Đức. Sau này chúng tôi mới biết đó là
hầm của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 79. Tiếp theo, chúng tôi được trực thăng
chở bay quanh Thường Đức một vòng để chỉ cho thấy những vùng Cộng quân
đang làm đường và đặt ống dẫn dầu... Chúng tôi có hỏi tại sao không
phá đi thì được trả lời rằng đã cho phá nhiều lần, nhưng phá xong
chúng lại làm lại. Chỉ có B.52 mới phá hủy hết được, nhưng B.52 không
còn. Thì ra tùy viên quân sự Mỹ đã dùng các ký giả để báo động cho
Quân Đoàn 1 biết Cộng quân sắp đánh Thường Đức, nhưng Tướng Ngô Quang
Tưởng hình như chẳng quan tâm gì.
Thượng Đức có địa hình rất hiểm trở, ba bề là núi
cao, dốc đứng hay sông bao bọc. Phía tây dựa vào dãy Trường Sơn với
nhiều vách đá dựng đứng, phía nam và đông bắc được bao bọc bởi hợp lưu
của sông Vu Gia và sông Côn. Mỹ đã xây sẵn các tiền đồn ở xa để bảo
vệ và phát hiện Cộng quân từ xa.
Lực lượng phòng thủ Thường Đức được đóng trên hai
ngọn đồi nằm kế cận với nhau như hình con số 8, bên lớn bên
nhỏ, theo trục đông tây. Quận lỵ Thường Đức đóng ở đồi nhỏ phía tây
do một các toán quân địa phương bảo vệ. Thiếu Tá Quận trưởng Nguyễn
Quốc Hùng mới 30 tuổi làm Quận Trưởng và Đại úy Vũ Trung Tín làm Phó
quận. Tiểu đoàn 79 thuộc Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân đóng ở đồi lớn
phía đông, sau lưng quận lỵ. Đây là một căn cứ do quân đội Mỹ
thiết lập trước đây để làm nơi xuất phát của những đơn vị
Nhảy Toán. Đến ngày 14.11.1970, sau khi Mỹ rút, căn cứ này được
chuyển giao cho TĐ79/BĐQ. Vì là hậu cứ nên ít khi quân của tiểu đoàn
này có mặt tại đây. Thỉnh thoảng mới thấy các đại đội của tiểu đoàn
này về đây nghĩ dưỡng quân vài tuần sau những cuộc hành quân khắp Quân
Khu 1. Tiểu đoàn thường chỉ để lại đây một trung đội với khoảng vài
chục binh sĩ để quản trị hậu cứ.
Tiểu đoàn 79 BĐQ do Thiếu Tá Hà Văn Lầu 35
tuổi làm Tiểu Đoàn Trưởng, thuộc quyền điều khiển của Trung Tá Chương
Thanh Tòng, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 14 BĐQ. Khi nghe tin Cộng Quân
sắp tấn công Thường Đức, cả 4 đại đội của Tiểu đoàn 79 được lệnh trở
về hậu cứ. Nhưng Trung Tá Tòng quyết định giữ lại 50 người của Đại Đôi
1 để bảo vệ an ninh Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đang đóng tại Núi Đất,
nên Đại Đôi 1 trở thành đại đội thiếu. Điều này chứng tỏ Tướng Ngô
Quan Trưởng chẳng chú ý gì đến việc bảo vệ Thường Đức.
TRẬN ĐÁNH THƯỜNG ĐỨC
Dựa trên tài liệu “Vietnam from Cease-Fire to
Capitulation” (Từ Đình Chiến đến Đầu Hàng) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ do
Đại Tá William E. Le Gro biên soạn, và dựa trên sự tường thuật của
các nhân chứng của cả hai bên, chúng tôi xin tóm lược về trận đánh
chiếm Thường Đức như sau:
Tài liệu của Cộng quân cho biết lực lượng tham
chiến ở Thượng Đức chủ yếu là Sư đoàn 304 (thiếu Trung đoàn 9) do
Thượng Tá Lê Công Phê làm Sư đoàn trưởng, được tăng cường bởi Trung
đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324, Tiểu đoàn 1 thuộc Lữ đoàn 219 Công binh, hai
Đại đội Tên lửa A72 và B72 của Quân đoàn 2, 2 tiểu đoàn bộ đội địa
phương, một tiểu đoàn đặc công của Quân khu 5, sau đó được tăng cường
thêm một đại đội bộ binh có xe tăng và hỏa lực pháo binh. Quân đoàn 2
Cộng quân đã tổ chức một bộ phận tiền phương đi cùng Sư đoàn 304 do
Đại tá Hoàng Đan, Phó tư lệnh Quân đoàn phụ trách. Như vậy Đại Tá
Hoàng Đan là người chỉ huy mặt trận.
Lực lượng phòng thủ của Quân Lực VNCH gồm có Tiểu
đoàn 79 BĐQ, 1 đồn biên phòng, 1 đại đội bảo an, 17 trung đội dân vệ,
1 trung đội pháo binh 105mm, 1 trung đội cảnh sát dã chiến và 1 trung
đội thám báo. Toàn bộ lực lượng khoảng 950 người do Thiếu tá Quận
trưởng Nguyễn Quốc Hùng chỉ huy.
Nhìn tương quan lực lượng chúng ta có thể thấy
Thường Đức sẽ bị thua, nhưng vì các công sự ở đây được xây rất vững
chắc và các binh sĩ quyết tâm chiến đấu nên việc đánh chiếm không dễ.
Lực lượng trong hậu cứ của Tiểu đoàn 79 được phối trí như sau: Đại
đội 2 đối phó ở hướng tây bắc, Đại đội 3 hướng đông bắc và
Đại đội 4 hướng đông nam, nơi giáp lưng với Văn phòng Quận và
là Chi khu Thường Đức. Trên ngọn đồi kế cận nhỏ hơn, về
hướng tây, là nơi đóng quân của Đại đội 1.
Lúc 5 giờ sáng ngày 28.7.1974 Cộng quân bắt đầu
pháo kích dữ dội vào Thường Đức. Mặc dầu Cộng quân chuyển quân cấp sư
đoàn rất rầm rộ, có cả chiến xa và xe vận tải, không có tin tình báo
nào dự báo Cộng quân có thể tấn công Thường Đức vào ngày đó và cũng
không có lệnh tăng cường phòng thủ Thường Đức.
Buổi tối trước ngày bị tấn công là ngày
Trung đội 1 của Đại đội 1 đến phiên trực có nhiệm vụ đi ra nằm
tiền đồn bên ngoài phạm vi phòng thủ, cách nơi Đại đội đóng
khoảng 1km. Ở đây chỉ có năm ba cái hầm nổi được bao bọc chung
quanh và trên đầu bằng những bao cát. Nhiệm vụ của tiền đồn là
quan sát và báo cáo tình hình. Ngay từ cuộc pháo kích đầu tiên,
trung đội này bị tấn công nặng, không rút lui được. Phải đợi dứt pháo
mới rút dần về.
Sáng 30.7.1974, Đại úy Chi Khu Phó Thường Đức bị
thương do pháo kích, nhưng các cuộc tấn công của Cộng quân đều bị đẩy
lui. Sau đó, phi cơ quan sát của Không Quân nhìn thấy một đoàn xe của
Cộng quân đang di chuyển trên liên tỉnh lộ 4 ở phía tây Thường Đức,
liền gọi phi cơ đến oanh tạc, phá hủy được 3 chiến xa và nhiều xe vận
tải khác.
Ngày 31.7.1974, Cộng quân bắt đầu cho bộ đội tấn
công vào Thường Đức. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 79 gọi pháo binh bắn trọng
pháo vào ngay Bộ Chĩ Huy của tiểu đoàn. Điều này chứng tỏ Cộng quân đã
tràn ngập căn cứ của tiểu đoàn. Được tin này, Tướng Nguyễn Duy Hinh,
Tư Lệnh Sư Đoàn 3, quyết định cho Trung Đoàn 2 thuộc Sư Đoàn này
đang ở phía tây Đại Lộc tiến theo liên tỉnh lộ 4 đến giải cứu Thường
Đức, nhưng không tiến được. Tướng Hinh phải đưa đại bác 175 ly vào
Hiếu Đức để bắn yểm trợ cho Thượng Đức, trong khi đó Không Quân cho
máy bay đến oanh tạc vòng đai quanh Thượng Đức. Cộng quân đã thất bại
nặng trong đợt tấn công này. Chúng ta hãy nghe một đoạn trong bài
“Trận Thượng Đức” của tác giả Trần Hoàng Tiến đăng trên báo Quân Đội
Nhân Dân:
“Ta bị thương vong nhiều mà hàng rào vào quận lỵ
vẫn chưa mở hết được. Trung tướng Phạm Xuân Thệ, nguyên Tham mưu phó
Trung đoàn 66 bồi hồi: “Khi mở cửa, đơn vị bị tổn thất khá nặng nề. Một
số thương binh nằm ngay trước cửa mở, có anh em hy sinh, người nằm vắt
trên hàng rào của địch. Càng đau xót, càng căm thù địch sâu sắc,
quyết tâm chiếm bằng được mục tiêu, trả thù cho đồng đội”.
Sau đó, Cộng quân đã thay đổi chiến thuật bằng
cách đưa pháo chống tăng loại 76,2 mm và cao xạ 37 mm lên đồi cao, bắn
thẳng vào lỗ châu mai giống như khi đánh Điện Biên Phủ. Để làm được
việc này, Cộng quân đã huy động 300 dân và bộ đội đưa pháo lên điểm
cao 500 mét. Đến nửa đêm 5.8.1974, lúc đầu, các khẩu đại pháo và hỏa
tiễn đa nòng đã bắn vào căn cứ Tiểu đoàn 79 như mưa. Các binh sĩ trong
căn cứ đã lui vào cố thủ trong hầm ngầm, lô cốt… Cộng quân liền ra
lệnh cho các pháo trên đồi hạ tầm và bắn thẳng vào các lỗ châu mai.
Ngay từ loạt đạn đầu, Thiếu tá Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng đã bị
trúng đạn và bị thương nặng. Chúng ta hãy nghe các chiến binh của Tiểu
đoàn 79 kể lại:
“Từ trên cao độ, Cộng quân cho pháo bắn
thẳng xối xả vào những hầm hố nào còn nhô ra trên mặt đất.
Gồng mình hứng trận đòn thù. Lần này chúng tôi có cảm giác
họ muốn chôn sống những ai còn lại. Họ muốn dùng hầm hố
và giao thông hào làm mồ chôn chúng tôi.
“Dù có thành đồng cốt sắt cũng không làm
sao có thể đứng vững trước sự tàn phá khủng khiếp này. Lần
lượt, từng cái hầm bị sụp đổ. Từng đoạn giao thông hào bị
san bằng. Một trái pháo nổ ngay trên bờ hầm của Trung Úy
Tẩm, Đại Đội Trưởng Đại Đội 1, máu từ đầu ông chảy xuống
che khuất một bên mắt...”
Tiểu đoàn 79 có nhiều người bị thương nên đã yêu
cầu cho trực thăng đến chuyển thương, nhưng Không Quân trả lời rằng
chỉ khi nào diệt xong các ổ súng phòng không của Cộng quân quanh
Thường Đức, trực thăng mới có thể hạ cánh được.
Điều đáng ngạc nhiên là trong khi mặt trận đang
diễn biến, Quân Đoàn I có một phi đoàn rất lớn ở Đà Nẵng, có những toán
thám báo hoạt động rất xuất sắc..., nhưng khi Cộng quân xử dụng trên
300 dân làng và bộ đội kéo pháo lên núi quanh Thường Đức cao 500m để
tấn công Tiểu Đoàn 79, Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn không hay biết gì hết.
Điều này chứng tỏ Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn 1 ít quan tâm đến trận Thường
Đức. Khi thấy tình hình nguy ngập, Tướng Ngô Quang Trưởng mới đưa ra
biện pháp đối phó, nhưng quá muộn và không hiệu quả: Ra lệnh cho một
Chi Đội Thiết Giáp M-48 đang đóng ở Tân Mỹ, Thừa Thiên, di chuyển ngay
vào Đà Nẵng để giải cứu Thường Đức. Ngày 1.8.1974, khi Chi Đội M-48
vừa đến Đà Nẵng, Tướng Hinh liền cho thiết lập một lực lượng đặc nhiệm
gồm có Trung Đoàn 2 Bộ Binh và Thiết đoàn 11 Kỵ Binh đi tái chiếm
Thường Đức, nhưng lực lượng này không tiến lên được.
Ngày 5.8.1974, Tướng Hinh liền cho Tiểu Đoàn 2
thuộc Trung Đoàn 2 và Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 57 tiến chiếm Đồi
52, nhưng khi còn cách đồi này khoảng 4 cây số thì phải dừng lại vì
pháo của Cộng quân quá mạnh. Trong khi đó, Trung đoàn 66 thuộc Sư Đoàn
304 của Cộng quân bắt đầu tấn công vào Thường Đức. Tiểu đoàn 79 cho
biết đạn dược và lương thực bắt đầu cạn. Một chiếc A.37 đến thả xuống
một gói đồ tiếp tế nhưng bị bay ra ngoài. Chiếc máy bay này quay trở
lại thì bị bắn rơi.
Ngày 6 và đêm 7.8.1974, Cộng quân pháo khoảng
1200 trái pháo vào căn cứ Thường Đức, sau đó cho bộ đội tràn vào. Lúc 8
giờ 30 sáng ngày 7.8.1974, Tiểu Đoàn 79 thông báo không còn giữ căn
cứ được, phải rút lui và cắt đứt liên lạc. Thường Đức hoàn toàn bị
thất thủ. Thiếu tá Hà Văn Lầu và Phó quận Vũ Trung Tín bị bắt sống.
Thiếu tá Quận Trưởng Nguyễn Quốc Hùng tự sát. Sau đó Đại úy Vũ Trung Tín
cũng tự sát.
Một số binh sĩ của Tiểu Đoàn 79, Nghĩa Quân, Địa
Phương Quân, Cảnh Sát, Cảnh Sát Dã Chiến, Nhảy Toán... đã chạy
thoát được và di chuyển xuống làng, dân chúng thấy liền chạy theo.
Đến bờ sông Côn thì không thể di chuyển được nữa. Hai chiếc
ghe chở hai nhóm quân nhân qua sông trước làm đầu cầu. Một số
nhỏ Cộng quân đang đuổi theo nên phải vừa đi vừa đánh, dân chúng và
những người bị thương theo sau… Ba ngày sau mới đến được Hà Nha. Ở
đây rất bình yên, gần như không biết đang có chuyện gì xảy ra. Trên
đoạn đường từ Hà Nha về tới Đại Lộc, chẳng thấy một sự
kiện nào chứng tỏ rằng đang có những toan tính tiếp viện hay
giải vây Chi Khu Thường Đức.
CHỦ TƯƠNG CỦA TƯỚNG NGÔ QUANG TRƯỞNG?
Sau khi chiếm được Thường Đức, Cộng quân khai
thông đường 14, sửa chữa đường, làm cầu, đặt ống dẫn dầu, chuyển
quân và vũ khí vào Cao Nguyên và miền Nam bằng xe. Theo con đường 14,
từ Thường Đức đi qua mật khu Hiệp Đức, đến Khâm Đức (Phước Sơn) thì
vòng lên Kontum, nhưng đến Ngọc Hồi ở phía bắc Kontun, Cộng quân phải
dừng lại. Tại đây Quân Lực VNCH đang đóng trên quốc lộ 14 từ Ngọc Hồi
đến Ban Mê Thuột. Cộng quân phải mở con đường khác ở trong rừng được
gọi là đường 14B vào gần sát biên giới Lào để chuyển quân xuống Đức
Lập ở phía tây Ban Mê Thuột. Lúc đó Cộng quân có thể chuyển quân qua
Vùng I Chiến thuật từ Khe Sanh đến Khâm Đức như chỗ không người!
Như chúng tôi đã nói ở trước, Tướng Ngô Quang
Trưởng chẳng những không nhận ra được tầm quan trọng của việc giữ chốt
Thường Đức mà còn muốn mở thông con đường này cho Cộng quân chuyển
xuống miền Nam để Vùng I của ông khỏi bị áp lực nặng!
Một phi công A-37 đã cho chúng tôi biết khi anh
đang bay đi oanh kích trên vùng Thường Đức, anh thấy một đoàn xe của
Cộng quân đang di chuyển trên đường 14, anh đã cho máy bay lao xuống
bắn cháy, nhưng sau đó anh bị Tướng Trưởng ra lệnh phạt trọng cấm.
Trong cuốn “Cảnh Sát hóa, quốc-sách yểu tử của Việt Nam Cộng Hòa” xuất
bản 2002 (trang 243) và trong bài "Từ Phi Trường Đà-Nẵng ra sân bay
Gia-Lâm" ông Lê Xuân Nhuận, Chánh Sở Cảnh Sát Khu I, cũng đã kể lại
lời tiết lộ của Đại Tá Hoàng Mạnh Đáng, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 1
như sau:
“Ngồi ở phòng giấy của đại tá Đáng, chúng tôi có
dịp nghe + thấy thêm được đôi điều. Tỷ như có lần, đầu năm 1975, nghe
điện thoại xong, ông bảo bên kia chờ máy, để ông vào trình Trung
Tướng. Ông qua phòng giấy Tướng Ngô Quang Trưởng, trình xong, về trả
lời người bên kia:
– Trung tướng chỉ thị anh em Không Quân, khi thấy
xe tăng, xe tải, bộ đội của chúng di chuyển trên đường mòn Hồ Chí
Minh, dù ở trong tầm oanh kích của ta thì cũng đừng hành động gì, cứ
để cho chúng tiếp tục chuyển quân vào Nam...”
Một vài nhà quân sự đã nhận định rằng Tướng Ngô
Quang Trưởng chỉ huy từ cấp Trung Đoàn trở xuống rất xuất sắc. Nhưng
việc chỉ huy một Quân Đoàn đã vượt khỏi tầm nhìn và khả năng của ông.
Năm 1981 Hà Nội đổi quận Thường Đức thành huyện
Giằng và thành lập thị trấn Thạnh Mỹ nằm dọc theo quốc lộ 14, cách
Bến Giằng khoảng 10km. Quận lỵ Thường Đức cũ nay thuộc xã Đại Lãnh,
huyện Đại Lộc. Năm 1999, Hà Nội biến vùng Hiên – Giằng thành 3 huyện:
Hiên thành Đông Giang và Tây Giang, còn Giằng là Nam Giang. Thường
Đức không còn nữa.
Ngày 5.4.2015
Lữ Giang
Ghi chú: Xin đón xem: Cuộc tái chiếm Thường Đức thất bại, Sư Đoàn Nhảy Dù bị tổn thất nặng.
trích => Lữ Giang
ReplyDeleteCHỦ TƯƠNG CỦA TƯỚNG NGÔ QUANG TRƯỞNG?
Sau khi chiếm được Thường Đức, Cộng quân khai thông đường 14,
sửa chữa đường, làm cầu, đặt ống dẫn dầu, chuyển quân và vũ khí vào
Cao Nguyên và miền Nam bằng xe. Theo con đường 14, từ Thường Đức
đi qua mật khu Hiệp Đức, đến Khâm Đức (Phước Sơn) thì vòng lên Kontum,
nhưng đến Ngọc Hồi ở phía bắc Kontun, Cộng quân phải dừng lại.
Tại đây Quân Lực VNCH đang đóng trên quốc lộ 14 từ Ngọc Hồi đến Ban Mê Thuột.
Cộng quân phải mở con đường khác ở trong rừng được gọi là đường 14B vào gần sát biên giới Lào để chuyển quân xuống Đức Lập ở phía tây Ban Mê Thuột. Lúc đó Cộng quân có thể chuyển quân qua Vùng I Chiến thuật từ Khe Sanh đến Khâm Đức như chỗ không người!
Như chúng tôi đã nói ở trước, Tướng Ngô Quang Trưởng chẳng những không nhận ra được tầm quan trọng của việc giữ chốt Thường Đức mà còn muốn mở thông con đường này cho Cộng quân chuyển xuống miền Nam để Vùng I của ông khỏi bị áp lực nặng!
Một phi công A-37 đã cho chúng tôi biết khi anh đang bay đi oanh kích trên vùng Thường Đức, anh thấy một đoàn xe của Cộng quân đang di chuyển trên đường 14, anh đã cho máy bay lao xuống bắn cháy, nhưng sau đó anh bị Tướng Trưởng ra lệnh phạt trọng cấm.
Trong cuốn “Cảnh Sát hóa, quốc-sách yểu tử của Việt Nam Cộng Hòa” xuất bản 2002 (trang 243) và trong bài "Từ Phi Trường Đà-Nẵng ra sân bay Gia-Lâm" ông Lê Xuân Nhuận, Chánh Sở Cảnh Sát Khu I, cũng đã kể lại lời tiết lộ của Đại Tá Hoàng Mạnh Đáng, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 1 như sau:
“Ngồi ở phòng giấy của đại tá Đáng, chúng tôi có dịp nghe + thấy thêm được đôi điều.
Tỷ như có lần, đầu năm 1975, nghe điện thoại xong, ông bảo bên kia chờ máy, để ông vào trình Trung Tướng. Ông qua phòng giấy Tướng Ngô Quang Trưởng, trình xong, về trả lời người bên kia:
– Trung tướng chỉ thị anh em Không Quân, khi thấy xe tăng, xe tải, bộ đội của chúng di chuyển trên đường mòn Hồ Chí Minh, dù ở trong tầm oanh kích của ta thì cũng đừng hành động gì, cứ để cho chúng tiếp tục chuyển quân vào Nam...”
Một vài nhà quân sự đã nhận định rằng Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy từ cấp
Trung Đoàn trở xuống rất xuất sắc. Nhưng việc chỉ huy một Quân Đoàn đã vượt khỏi tầm nhìn và khả năng của ông.
--------------------------------------------
STD_SOG
Đồng ý Ô.Lữ Giang {thời Đệ I VNCH làm Thẩm Phán ở SG, tánh thẳng thắng}.
Nhưng trong vấn đề Quân sự, thì chưa có một căn bản nào; bởi vì chưa tiếp cận
một thực tế nào! Ngay cã Tướng Thiệu là TT kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội VNCH,
nhưng về Chiến Lược,Chiến Thuật thì còn fải mang ba lô đi theo học vài vị Tướng.
Bởi vì họ đã cầm quân đánh trận nhiều lần cã 2 thắng thua theo lối trận địa,trên tất cã 4 Vùng Chiến Thuật (như Tướng Ngô Quang Trưởng).
. l'OO'k => OK ¯\_(ツ)_/¯ OK <= l'OO'k
.link => https://youtu.be/MntBuXLDRYc
. https://youtu.be/k1n6ZFYkQDw
. https://youtu.be/i4XoLld
. https://youtu.be/ay0AGs-Q-n
. https://youtu.be/XbcrCpAdamc
. https://youtu.be/Jy8PQFNqjJc
. l'OO'k => OK ¯\_(ツ)_/¯ OK <= l'OO'k